Chuyên đề: Bệnh tiểu đường type 2

0

I. Bệnh tiểu đường type 2 là gì?

Bệnh tiểu đường type 2 cũng được biết như đái tháo đường loại 2. Bệnh tiểu đường type 2 chiếm hơn 90% tổng bệnh tiểu đường. Nó là một bệnh rối loạn chuyển hóa gây cản trở sử dụng đường huyết của cơ thể. Hầu hết những thức ăn chúng ta ăn vào bị phá vỡ thành đường glucose (cũng được biết như đường huyết).

Mỗi tế bào trong cơ thể đòi hỏi glucose để thực hiện chức năng bình thường. Tuy nhiên, glucose không thể xâm nhập vào tế bào không có insulin, một hormone được giải phóng bởi tụy. Insulin đóng một vai trò giống như một chìa khóa để mở cửa cho phép glucose đi từ máu vào trong tế bào.

Khi không có đủ insulin hoặc cơ thể không đáp ứng tốt với insulin, glucose (đường huyết) không được phép vào các tế bào lâu hơn, dẫn đến tăng nồng độ đường trong máu.

Sự phát triển của bệnh

Bệnh tiểu đường tuýp 2 phải mất vài năm để phát triển và luôn được chẩn đoán sau một thời gian dài, tất nhiên không có triệu chứng. Khoảng 85% bệnh tiểu đường là béo phì và đề kháng insulin (khi những tế bào không đáp ứng lâu dài với insulin) là thường xuất hiện, gây nồng độ insulin trong máu cao lưu thông khắp cơ thể. Insulin có tác dụng làm cơ thể dự trữ chất béo và gửi những tín hiệu đến não cho biết bạn đói.

Những triệu chứng bệnh tiểu đường type 2 thường nhẹ hơn bệnh tiểu đường type 1 khi xuất hiện, nhưng các biến chứng thì phổ biến và tăng tỷ lệ khi đường huyết kiểm soát kém. Sàng lọc các biến chứng bắt đầu lúc chẩn đoán bởi vì bệnh phát triển xảy ra nhiều năm, vì vậy tổn thương có thể đã tồn tại.

Sự gia tăng bệnh tiểu đường type 2 ở trẻ em

Trên 20 năm qua tỷ lệ bệnh tiểu đường type 2 ở trẻ đã tăng gấp 10 bởi vì sự tăng béo phì, thiếu tập thể dục và sự tiêu thụ các thức ăn nghèo dưỡng chất. Khoảng 208.000 người Mỹ dưới 20 tuổi được ước tính đã được chẩn đoán bệnh tiểu đường. Số lượng này xấp xỉ ¼ dân số.

Bệnh tiểu đường type 2 kết hợp với các bệnh khác

Bệnh đái tháo đường type 2 thường kết hợp với tăng huyết áp và bất thường lipid như cholesterol toàn phần cao và lipoprotein trọng lượng phân tử thấp (low density lipoprotein – LDL). LDL được biết như cholesterol xấu vì nó tập trung trên thành mạch máu, tạo ra sự tắc nghẽn và tăng những nguy cơ cho cơn đau tim và đột quỵ. Cứ mỗi 5 phút có 2 người chết liên quan bệnh tiểu đường gây nên và 14 người trưởng thành được chẩn đoán mới.

Các mục tiêu quản lý của Hiệp hội đái tháo đường Mỹ (American Diabetes Association – ADA)

ADA đã đặt các mục tiệu quản lý cho bệnh đái tháo đường type 2. Bạn và bác sĩ của bạn nên làm việc theo các mục tiệu này và thay đổi chúng nếu cần thiết để phù hợp các nhu cầu và các hoàn cảnh cá nhân.

II. Các nguyên nhân, những yếu tố nguy cơ và phòng ngừa bệnh

Các nguyên nhân

Nguyên nhân của bệnh đái tháo đường loại 2 gồm hai phần : những yếu tố di truyền và môi trường. Những cá nhân có người thân kế trước bị bệnh tiểu đường type 2 thì có nguy cơ 5 đến 10 lần phát triển bệnh tiểu đường type 2. Người của các dân tộc nhất định như Tây Ban Nha, châu Phi, châu Á thì phát triển bệnh này hơn.

Những yếu tố môi trường, bao gồm chế độ ăn và mức độ hoạt động, cũng là các nguyên nhân của bệnh đái tháo đường loại 2. Một chế độ ăn cao chất béo bão hòa là một yếu tố nguy cơ cho bệnh đái tháo đường loại 2 bởi vì nó đã được cho thấy là làm tăng đề kháng insulin. Các chất béo bão hòa được xuất phát từ nguồn động vật (thịt) và những sản phẩm bơ sữa (sữa, bơ và phô mai). Theo một nghiên cứu, khi số lượng hút thuốc lá tăng, thì tỷ lệ bệnh tiểu đường tăng. Lối sống tham gia vào hầu hết các nguyên nhân bệnh tiểu đường type 2, vì vậy làm những thay đổi phù hợp sẽ làm giảm đáng kể khả năng xảy ra bệnh tiểu đường phát triển.

Những yếu tố nguy cơ

Những yếu tố nguy cơ cho bệnh gồm:

  • Cha mẹ có tiểu sử về bệnh tiểu đường.
  • Béo bụng.
  • Tiền căn bệnh tiểu đường thai kỳ (bệnh tiểu đường trong suốt quá trình mang thai) hoặc nếu bạn sinh trẻ nặng hơn 4kg.
  • Những nhóm dân tộc nhất định gồm : người da đen, người La tinh, người da đỏ, người Alaska, người châu Á và Thái Bình Dương.
  • A1c trước cao hơn hoặc bằng 5,7 chỉ ra giảm đường huyết lúc đói hoặc tiền bệnh tiểu đường.
  • Thiếu tập thể dục hoặc không hoạt động thể chất.
  • Tiền căn có hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome – PCOS).
  • Lipoprotein trọng lượng phân tử cao (high density lipoprotein – HDL) thấp (ít hơn 35 mg/dl) và/hoặc triglycerides thấp (ít hơn 250 mg/dl).
  • Bệnh gai đen, một ban đen, xạm xung quanh cổ hoặc nách.

Phòng ngừa

Mặc dù bệnh đái tháo đường loại 2 có một thành phần di truyền mạnh, chế độ ăn và lối sống cá nhân có nhiều khả năng ảnh hưởng đến việc bệnh đái tháo đường loại 2 sẽ biểu hiện hay không. Chương trình phòng ngừa bệnh tiểu đường type 2 giải thích rằng một chế độ ăn khỏe mạnh khi kết hợp với tập thể dục phù hợp làm giảm nguy cơ bệnh tiểu đường type 2.

Trong các nghiên cứu, kết hợp chế độ ăn và tập thể dục cho thấy sự giảm 58% nguy cơ bệnh đái tháo đường loại 2 – thậm chí tốt hơn ở những người 60 tuổi và già hơn, giảm 71% nguy cơ, trong khi phương pháp dùng thuốc (như metformin) đơn độc thì giảm 31%.

Ngoài ra, những người châu Á và châu Phi theo chế độ ăn truyền thống (thấp sản phẩm động vật và cao carbohydrate phức tạp và chất xơ) và họ hoạt động thể chất có tỷ lệ bệnh tiểu đường thấp hơn người Mỹ, người theo chế độ ăn tiêu chuẩn Mỹ và tĩnh tại. Những người ăn chay cũng có tỷ lệ thấp bệnh tiểu đường

Những lý do cho các điều này tìm thấy bao gồm:

  • Chất béo bão hòa là kết hợp với đường huyết lúc đói suy giảm, đề kháng insulin và bệnh tiểu đường type 2.
  • Mức chất xơ cao trong chế độ ăn làm mức đường trong máu thấp hơn sau các bữa ăn.
  • Các chế độ ăn giàu chất xơ chứa vi chất dinh dưỡng giúp cơ thể chịu được sai lệch đường huyết như magnesium. Những thức ăn có magnesium cao bao gồm các loại rau có lá xanh đậm, các quả hạch, các loại hạt, các loại đậu, ngũ cốc, bơ, chuối và trái cây khô. Lượng magnesium hằng ngày được đề nghị là 400 mg.
  • Chế độ ăn giàu chất sắt, được tìm thấy trong thịt, là kết hợp với làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường Type 2.

III. Những dấu hiệu và những triệu chứng của bệnh

Bệnh tiểu đường type 2 thường không triệu chứng khi chẩn đoán. Bệnh tiểu đường type 2 là dạng phổ biến nhất của bệnh tiểu đường và bị gây nên bởi mức đường huyết cao, giảm sản xuất insulin và hoặc đề kháng insulin.

Hầu hết bệnh tiểu đường type 2 không có những dấu hiệu bệnh, nhưng thay vào đó nó được phát hiện dựa trên kết quả xét nghiệm định kỳ. Ví dụ : một cá nhân sẽ có một kết quả đường huyết cao và điều này sẽ nhắc nhở đánh giá thêm nếu bệnh tiểu đường type 2 đã hiện diện.

Những triệu chứng điển hình của bệnh

Mặc dù, hầu hết các bệnh nhân là không triệu chứng khi chẩn đoán, nhưng có một vài triệu chứng điển hình phải nhận thức được và chăm sóc y tế nên được tìm kiếm khi bất cứ triệu chứng nào trong những triệu chứng này đang xảy ra:

  • Đi tiểu nhiều (đa niệu – polyuria) xảy ra khi mức đường huyết trong nước tiểu lớn hơn 180 mg/dl, đây là ngưỡng đường của thận. Quá nhiều đường trong nước tiểu (một tình trạng được biết như đường niệu) có thể được đánh giá bằng cách phân tích nước tiểu.
  • Những nguyên nhân đường trong nước tiểu tăng làm đi tiểu tăng thông qua lợi tiểu thẩm thấu. Lợi tiểu thẩm thấu làm tăng lượng nước tiểu do những chất nhất định đang hiện diện trong các thành phần lọc của thận. Khi một chất như glucose không thể được tái hấp thu tại thận, số lượng chất lỏng tăng lên bị kéo vào trong thận dẫn đến tăng bài niệu.
  • Đi tiểu nhiều có thể dẫn đến một tình trạng gọi là giảm dung lượng máu là thể tích chất dịch bên trong cơ thể giảm, nếu không thì được biết như sự mất nước.
  • Khi một người bị mất nước, người đó đã tăng cảm giác khát. Nếu một người cố gắng bổ sung lượng nước mất của mình bằng việc uống chất lỏng có nồng độ đường cao (như sodas), tình trạng này xấu đi đáng kể, tiểu nhiều và mất dịch nhiều hơn.
  • Chứng tiểu đêm hoặc tiểu nhiều vào ban đêm cũng có thể được xuất hiện.
  • Nhìn mờ có thể xảy ra do nồng độ đường trong máu cao.
  • Thỉnh thoảng, sụt cân sẽ xảy ra trong một vài cá nhân, đặc biệt nếu họ không thể sản xuất nhiều insulin. Khi cơ thể không có đủ insulin để đưa glucose vào trong tế bào tạo năng lượng, nó sẽ bắt đầu phá hủy chất béo và đạm. Điều này gây sụt cân nhanh chóng, nhưng đó là đặc trưng tạm thời. Tăng cân sẽ xảy ra sau khi bệnh tiểu đường được điều trị đúng.

IV. Những xét nghiệm và chẩn đoán bệnh

Xét nghiệm để chuẩn đoán bệnh.
Xét nghiệm để chuẩn đoán bệnh.

Xét nghiệm đặc trưng bệnh tiểu đường type 2 là kiểm tra đường huyết. Nồng độ đường huyết bình thường là giữa 60 – 100 mg/dl. Cái này có thể được kiểm tra nhanh cho 8 đến 12 giờ (chỉ uống nước) trước khi lấy máu xét nghiệm. Một xét nghiệm dung nạp glucose 2 giờ bình thường là đường huyết ít hơn 140 mg/dl. Những kết quả hơi bất thường là dấu hiệu suy giảm đường huyết lúc đói là thường đi trước một chẩn đoán bệnh tiểu đường theo sau.

Một xét nghiệm khác được thực hiện phổ biến là xét nghiệm huyết cầu tố A1c (hemoglobon A1c – HbA1c). Nồng độ bình thường của HbA1c là 5,7% hoặc giữa 4 và 5,6%. Huyết cầu tố được tìm thấy trong các hồng cầu và chứa sắt giúp vận chuyển oxi đến các mô. A1c được hình thành do tương tác hóa học của glucose và hemoglobin, nó xảy ra trong suốt thời gian sống của hồng cầu (khoảng 120 ngày).

Tốc độ A1c được hình thành là tỷ lệ thuận với nồng độ glucose trong máu. Mức glucose càng cao thì A1c được tạo thành càng nhiều. Vì thế HbA1c là dấu chỉ điểm tuyệt vời cho biết mức đường huyết trung bình trong 3 tháng trước và thường được sử dụng để theo dõi bệnh tiểu đường type 2 đang được kiểm soát tốt như thế nào ở bệnh nhân. Mức HbA1c có thể được ước lượng bằng làm một xét nghiệm glycohemoglobin.

Các bệnh khác nên được loại trừ

Một vài bệnh khác gây tăng mức đường huyết nên loại trừ nếu có bất kỳ triệu chứng nào.

Những bệnh liên quan bao gồm:

  • Bệnh Cushing là một bệnh do sản xuất quá nhiều cortisol, nó bắt đầu với u tuyến yên trong não gọi là u tuyến. Bệnh Cushing liên kết với tăng nồng độ đường huyết và đề kháng insulin.
  • Bệnh to cực được gây nên bởi u lành tuyến yên gọi là u tuyến, nó gây sản xuất quá nhiều các hormone tăng trưởng.
  • U tủy thượng thận bị gây nên bởi u lành thượng thận dẫn đến kết quả epinerphrine và norepinerphrine đang được giải phóng quá nhiều vào trong tuần hoàn, dẫn đến tăng áp lực máu.
  • Cường giáp là tuyến giáp hoạt động quá mức làm giải phóng quá nhiều hormone tuyến giáp.

Chẩn đoán bệnh

Bệnh tiểu đường có thể được chẩn đoán bằng bất kỳ phương pháp theo dõi nào, đánh giá trên hai dịp khác nhau:

  • Nồng độ đường huyết lúc đói (không ăn trong 8 đến 12 giờ) cao hơn 126 mg/dl. Không dung nạp glucose hoặc tiền bệnh tiểu đường là mối quan tâm với nồng độ đường huyết giữa 100 mg/dl và 125 mg/dl.
  • Xét nghiệm dung nạp glucose đường uống 2 giờ là 200 mg/dl hoặc tăng trong hai dịp khác nhau.
  • Đường huyết ngẫu nhiên là 200 mg/dl hoặc cao hơn khi những triệu chứng bệnh tiểu đường xuất hiện như tăng khát và tiểu nhiều, sụt cân không rõ nguyên do, nhìn mờ và/hoặc tăng đi tiểu ban đêm.
  • HbA1c cao hơn hoặc gần bằng 6,5%. Tiền bệnh tiểu đường là mối quan tâm với mức HbA1c giữa 5,7% và 6,4%.
  • Vẫn có một số cuộc tranh luận về sử dụng HbA1c cho chẩn đoán bệnh tiểu đường type 2 bởi vì nó có thể bị tác động bởi những tình trạng khác nhau như bệnh hồng cầu hình liềm, bệnh thiếu máu Địa Trung Hải, bệnh thiếu máu, bệnh thận và bệnh gan và tiêu thụ bổ sung vitamin C và E. Tuy nhiên, sự theo dõi nồng độ HbA1c là chủ yếu trong quản lý bệnh bệnh tiểu đường type 2.

V. Thuốc và điều trị

Bệnh tiểu đường type 2 có thể được điều trị bằng các thuốc uống kê toa và/hoặc insulin được tiêm dưới da.

Thuốc và điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2
Thuốc và điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2

Những thuốc uống

1. Biguanides:

Thuốc đầu tiên được kê toa cho bệnh tiểu đường type 2 được chẩn đoán mới thường là metformin bởi vì nó không gây tăng cân hoặc giảm đường huyết và nó thì rẻ. Nó làm giảm sản xuất đường huyết ở gan và tăng nhạy cảm với insulin. Vì nó cải thiện việc sử dụng insulin của cơ thể, tổng mức insulin giảm. Nó là thuốc uống duy nhất được chấp nhận cho những đứa trẻ và những thanh thiếu niên.

Chức năng thận cần được đánh giá trước khi dùng metformin. Nó không nên được kê toa cho những người suy tim, bệnh thận, bệnh gan, uống rượu quá nhiều và nhiễm trùng nghiêm trọng. Những tác dụng phụ bao gồm: rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy, nhưng chúng luôn luôn cải thiện sau dùng nhiều lần và có thể được giảm do ăn thức ăn. Metformin làm giảm hấp thu vitamin B12 vì vậy mức B12 nên được kiểm tra. Metformin nên được ngưng trước bất kỳ hình ảnh có sử dụng độ tương phản tĩnh mạch và cho 48 giờ sau đó.

2. Sulfonylureas:

Glipizide, glyburide và glimeperide là những thuốc bệnh tiểu đường uống được kê toa phổ biến nhất. Glipizide là tác dụng ngắn hơn và thích hợp cho những bệnh nhân lớn tuổi hoặc những người bệnh thận. Glyburide không nên được sử dụng cho bệnh nhân có bệnh thận bởi vì nó có chất chuyển hóa hoạt động được thải trừ tại thận. Sulfonylureas kích thích những tế bào bêta tụy giải phóng insulin và có thể gây hạ đường huyết và tăng cân. Những thuốc này có thể được sử dụng trong những bệnh nhân có chứng ngưng thở lúc ngủ hoặc suy tim sung huyết.

3. Thiazolidinediones:

Pioglitazone và rosiglitazone làm tăng nhạy cảm insulin và làm giảm sản xuất đường huyết tại gan. Chúng nên được tránh với những bệnh nhân suy tim và bệnh gan không do rượu. Tăng cân và giữ nước là những tác dụng phổ biến, mà còn được thấy làm tăng nguy cơ gãy xương thuộc chi xa ở những người phụ nữ, suy tim và ung thư bàng quang. Có hộp đen cảnh báo về thuốc này cho suy tim độ III hoặc IV.

4. Meglitinides:

Nateglidine và repaglinide kích thích tiết insulin. Chúng thì tác dụng ngắn và phải được uống trong bữa ăn, nó thì hữu ích cho lịch trình ăn uống bất thường. Chúng cũng có thể được sử dụng cho các bệnh nhân lớn tuổi cũng như những bệnh nhân đó có suy thận và suy tim.

5. Những chất ức chế alpha glucosidase

Acarbose và miglitol cản trở hấp thu carbohydate trong ruột, làm giảm mức đường huyết sau bữa ăn và không gây hạ đường huyết khi dùng như là một liệu pháp đơn. Sự đầy hơi là một tác dụng phụ phổ biến, nhưng nó cải thiện dần theo thời gian dài. Những bệnh nhân nên xét nghiệm đánh giá chức năng gan và những thuốc này nên tránh những bệnh nhân có xơ gan, bệnh thận hoặc bệnh tiêu hóa.

6. Những thuốc ức chế dipeptidyl peptidase-4 hoặc DPP-IV:

Sitagliptin, saxagliptin, linagliptin và vildagliptin ức chế men thoái biến các hormone incretin trong cơ thể. Incretin là một hormone kích thích tiết insulin trong đáp ứng với thức ăn ở ruột. Nếu men phá vỡ các incretin bị ngăn cản, sau đó các incretin sẽ ở xung quanh lâu hơn, gây tăng tiết insulin, sự giảm glucagon (một hormone gây gan giải phóng nhiều glucose hơn) và trì hoãn làm trống dạ dày (nó làm chậm hấp thu carbohydrate và do đó làm giảm mức đường huyết sau bữa ăn). Sitagliptin bắt buộc sử dụng liều thấp hơn ở những người có bệnh thận, nhưng linagliptin thì không được bài tiết từ thận, do đó nó là một lựa chọn tốt cho người lớn tuổi. Những tác dụng phụ bao gồm : tăng nhiễm trùng hô hấp trên, đau họng, tiêu chảy và viêm tụy.

7. Những thuốc ức chế SGLT2:

Canagliflozin và dapagliflozin ngăn chặn tái hấp thu glucose ở thận và do đó làm tăng bài tiết glucose niệu. Điều này gây giảm cân và giảm áp lực máu, tuy nhiên, nó tăng nguy cơ nhiễm trùng ống thận và nhiễm nấm âm đạo.

8. Cô lập acid mật (colesevelam):

Cholesterol là tiền thân chính của acid mật. Colesevelam gắn kết với acid mật trong ruột và bài tiết nó vào phân, dẫn đến cholesterol huyết thanh thấp hơn. Nó gây giảm A1c và có thể tăng các incretin.

Những thuốc chích không insulin

1. Dẫn xuất incretin hoặc đồng vận thụ thể GLP-1 (liraglutide và exenatide): exenatide được tiêm và dùng để làm tăng sự tiết insulin trong thời gian ăn ở bệnh tiểu đường type 2. Nó tương tự incretin là một hormone kích thích bài tiết insulin trong đáp ứng với thức ăn ở ruột. Nó ít có khả năng gây hạ đường huyết hoặc tăng cân và điều chỉnh cảm giác no như vậy dẫn đến làm giảm sự thèm ăn và giảm cân. Có hộp đen cảnh báo về việc làm tăng nguy cơ u tế bào C tuyến giáp và nó bị cấm dùng trong những bệnh nhân có tiền căn bản thân hoặc tiền căn gia đình có hội chứng đa u tuyến nội tiết loại 2.

2. Amylin được tạo bởi các tế bào bêta tụy, nó được tiết cùng với insulin. Pramlintide, là một amylin tổng hợp, được tiêm trong bữa ăn cùng với insulin tác dụng nhanh. Nó làm giảm mức đường huyết sau bữa ăn và làm giảm sự thèm ăn, nó giúp giảm cân. Nó bị cấm dùng ở những bệnh nhân có chứng liệt nhẹ dạ dày. Có hộp đen cảnh báo về việc tăng nguy cơ hạ đường huyết nghiêm trọng.

Insulin

Insulin đi kèm trong một loạt các dạng với các thời gian tác dụng khác nhau:

  • Tác dụng dài: những insulin cho tác dụng cơ bản. Glargine thường được sử dụng mỗi ngày và detemir được sử dụng 1 hoặc 2 lần/ngày.
  • NPH (neutral protamine hagedorn hoặc insulin human isophane) là một insulin tác dụng trung bình và được dùng 2 lần/ngày.
  • Tác dụng nhanh: những insulin hoặc insulin thường xuyên (lispro, aspart, glulisine) được dùng tiêm nhanh trước các bữa ăn để làm giảm mức đường huyết sau ăn và để điều trị mức đường huyết cao liên quan đến những nguyên nhân khác.
  • Tác dụng trung bình: Insulin thì cũng có sẵn để dùng trong sự kết hợp insulin tác dụng ngắn hoặc nhanh.
  • Insulin gây tăng cân nhưng lợi ích của sự kiểm soát glucose là quan trọng hơn.
  • Liều insulin trung bình là 0,6 đến 0,8 đơn vị/kg cân nặng cơ thể mỗi ngày.
  • Tiêm trong bụng được hấp thu nhanh hơn khi tiêm trong đùi, tuy nhiên vận động làm tăng tốc hấp thu trong bắp đùi.

VI. Thuốc thay thế và quản lý bệnh

Những bổ sung

Những bổ sung khác nhau đã được nghiên cứu cho giá trị của chúng trong quản lý bệnh tiểu đường type 2:

  • Chromium (Cr): là một cofactor insulin (cofactor là nhóm thêm không phải protein), nghĩa là nó giúp insulin làm việc. Nó làm tăng sự hiện diện của chất vận chuyển glucose ở màng tế bào. Nó được hiểu rằng Chromium là cần thiết cho kiểm soát đường huyết nhưng gây tranh cãi là liệu chromium thêm vào là có ích trong điều trị bệnh tiểu đường type 2 hay không. Theo Hội đồng quản trị thực phẩm và dinh dưỡng của viện y khoa (the Food and Nutrition Board of the Institute of Medicine) khẩu phần ăn được đề nghị (the recommened dietary allowance – RDA) cho chromium là 25 mcg/ngày cho phụ nữ và 35 mcg/ngày chon am, những người từ 19 đến 50 tuổi. Những người quá 50 tuổi, được đề nghị là 30 mcg cho nam và 20 mcg cho nữ.
  • Magnesium: một phân tích sau (một nghiên cứu tổng hợp các kết quả của nhiều nghiên cứu độc lập) tìm thấy rằng bổ sung magnesium uống có thể làm giảm đường huyết lúc đói và cải thiện nồng độ HDL. Magnesium làm tăng nhạy cảm insulin và tăng tiết insulin. Những thực phẩm giàu magnesium là ngũ cốc nguyên hạt, những rau có lá xanh đậm, quả hạch, các loại hạt, trái cây sấy khô, trái bơ và đa dạng các loại đậu.
  • Các thực vật học: các thực vật học cho điều trị bệnh tiểu đường type 2 là vẫn chưa điều tra nhưng chúng thể hiện sự hứa hẹn. Ví dụ: thuốc phổ biến metformin được phát triển từ thực vật cây Cửu lý hương của Dê.
  • Acid alpha – lipoic thể hiện sự hứa hẹn cho cải thiện bệnh thần kinh do bệnh tiểu đường qua những tác dụng chống oxi hóa của nó. Nguồn acid alpha lipoic bao gồm: rau bina, bong cải xanh, củ mài, khoai tây, nấm men, cà chua, củ cải đường và cà rốt.

Những gia vị

– Cây quế trong nghiên cứu giảm bệnh tiểu đường type 2 và tiền bệnh tiểu đường mức đường huyết lúc đói bằng 10% đến 29%. Những hiệu quả hạ thấp đường huyết xuất hiện là phụ thuộc liều, nghĩa là quế là không có hiệu quả cho đến khi một lượng nhất định đạt được. Không có sự thay đổi trong đường huyết ở mức 1,8 g/d nhưng có một sự cải thiện rõ rệt ở mức 3 g/d. Quế chứa những hợp chất cao phân tử polyphenol, nó đóng vai trò giống insulin và điều này có thể giải thích tại sao quế đã được tìm thấy để hạ nồng độ đường huyết.

– Nhân sâm Mỹ (Panax quinquefolius L.) đã được thấy làm giảm nồng độ đường huyết sau khi ăn trong cả bệnh tiểu đường type 2 và không bệnh tiểu đường. Có nhiều cơ chế chịu trách nhiệm cho những hiệu quả hạ đường huyết của Nhân sâm Mỹ, bao gồm: tiêu hóa chậm thức ăn, cải thiện glucose lấy vào trong các tế bào và tăng tiết insulin.

Những thay thế khác

– Châm cứu đã được thể hiện là cải thiện bệnh thần kinh ngoại biên khi so sánh với mẫu.

– Liên hệ phản hồi sinh học và thiền định được thấy là cải thiện HbA1c lượng nhỏ, nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên. A1c giảm từ 7,4% thành 6,8% trong những người đã tăng mức đường huyết dai dẳng trước đó 3 tháng.

Luôn luôn tham khảo ý kiến của chuyên gia chăm sóc sức khỏe của bạn

Nó được hiểu rằng các cá nhân, những người chịu đựng bất kỳ bệnh mãn tính nào sẽ tìm kiếm mọi khả năng để cải thiện tình trạng lâm sàng của họ. Tuy nhiên, các cá nhân tìm kiếm lời khuyên từ các chuyên gia chăm sóc sức khỏe hoặc bác sĩ của họ trước khi dùng bất kỳ dạng bổ sung hoặc thuốc thảo dược là rất quan trọng. Đái tháo đường type 2, người đang dùng những thuốc hạ đường huyết là có nguy cơ cao đặc biệt của hạ đường huyết hoặc mức đường huyết rất thấp và mặc dù cần để duy trì mối quan tâm đến những tác dụng phụ tiềm ẩn của những chất bổ sung và các thảo dược.

VII. Dinh dưỡng, giữ dáng cân đối và những chọn lựa lối sống cho bệnh tiểu đường type 2

Dinh dưỡng, giữ dáng cân đối và những lựa chọn lối sống khỏe mạnh đã cho thấy cải thiện (và trong một vài trường hợp ngược lại) bệnh tiểu đường Type 2.

Dinh dưỡng cân đối là một trong những nhân tố quan trọng trong việc điều trị bệnh tiểu đường type 2
Dinh dưỡng cân đối là một trong những nhân tố quan trọng trong việc điều trị bệnh tiểu đường type 2

Dinh dưỡng

Những mục tiêu điều trị thuộc chế độ ăn cho bệnh tiểu đường type 2 bao gồm: sự cải thiện mức glucose, áp lực máu và các lipid huyết thanh đến mức tối ưu. Ngoài ra, những cải thiện chế độ ăn uống sẽ dẫn đến một cân nặng khỏe mạnh. Khi những người mắc bệnh bệnh tiểu đường type 2 luôn tuân theo một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục đều đặn (ít nhất 150 phút/tuần) và dùng những thuốc cần thiết, mức đường huyết của họ được kiểm soát, điều này làm giảm mạnh nguy cơ các biến chứng.

Hiệp hội bệnh tiểu đường Mỹ (the American Diabetes Association) đề nghị rằng những người bệnh tiểu đường type 2 nhận được liệu pháp dinh dưỡng y học cá nhân hóa bởi một chuyên gia dinh dưỡng đã ghi, ước lượng carbohydrate ăn vào, tiêu thụ những thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp, tăng ăn chất xơ ít nhất 14 g/ngày, hạn chế ăn chất béo bão hòa đến ít hơn 7% tổng năng lượng, ăn hạn chế tối đa chất béo chuyển hóa, duy trì cân nặng khỏe mạnh hoặc giảm cân nếu quá cân và hạn chế rượu 1 ly/ngày đối với nữ và 2 ly/ngày đối với nam.

Một phân tích gộp gần đây tiết lộ rằng sự dùng chế độ ăn chay được kết hợp với cải thiện kiểm soát đường huyết trong bệnh tiểu đường type 2, với mức HbA1c cải thiện đáng kể. Ngoài ra, một chế độ ăn ít béo, thực vật cơ bản đã được thấy hiệu quả cải thiện mức đường huyết và giảm những nguy cơ tim mạch bởi mức cholesterol hạ thấp tốt hơn chế độ ăn được đề nghị bởi Hiệp hội bệnh tiểu đường Mỹ. Chế độ ăn ít béo, thực vật cơ bản cũng làm giảm tốt hơn về cân nặng cơ thể, cholesterol LDL và mức vi đạm niệu . Chế độ ăn ít béo và thực vật cơ bản loại tất cả sản phẩm động vật, tránh thêm dầu nhằm vào các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp.

Một chế độ ăn ít chất béo, thực vật cơ bản làm cải thiện sự nhạy cảm với insulin theo nhiều hướng:

  • Dạng chế độ ăn này là ít chất béo và nhiều chất xơ dẫn đến ăn vào ít năng lượng và cân nặng giảm đáng kể. Một chế độ ăn tăng 14 g chất xơ mỗi ngày làm giảm năng lượng lấy vào bằng 10%. Sự giảm chất béo cơ thể cho phép insulin được tận dụng hiệu quả hơn trong cơ thể, do đó làm tăng nhạy cảm insulin hoặc giảm đề kháng insulin.
  • Giảm lượng chất béo toàn phần lấy vào – và chất béo bão hòa, nói riêng – tăng nhạy cảm insulin. Các chất béo bão hòa được bắt nguồn từ động vật như thịt và các sản phẩm từ sữa (thịt bò, bơ, phô mai,…).
  • Tăng lượng carbohydrate lấy vào làm cải thiện sự nhạy cảm insulin trong các cá nhân khỏe mạnh và kiểm soát đường huyết trong các bệnh nhân bệnh tiểu đường type 2.
  • Chỉ số đường huyết thấp carbohydrate làm giảm nồng độ A1c trong những bệnh nhân bệnh tiểu đường type 1 và type 2.
  • Chế độ ăn nhiều chất xơ làm mức đường huyết thấp hơn sau bữa ăn khi so sánh với chế độ ăn chất xơ thấp và cải thiện việc kiểm soát đường huyết trong các bệnh nhân bệnh tiểu đường type 2.
  • Thịt và các sản phẩm từ sữa đã cho thấy làm tăng những nguy cơ cho bệnh tiểu đường type 2, do hàm lượng chất béo bão hòa tăng dẫn đến tăng nồng độ lipid trong nội bào cơ và tiếp theo ngộ độc lipid. Lipid trong nội bào cơ là chất béo lắng đọng trong cơ của chúng ta dẫn đến đề kháng insulin.

Những thực phẩm làm đường huyết thấp

Chỉ số đường huyết là một danh sách các thực phẩm chứa carbohydrate xếp theo chúng làm tăng mức đường huyết bao nhiêu khi so sánh với glucose uống. Ví dụ của những thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp bao gồm: các loại đậu khô và các rau đậu, rau củ không chứa tinh bột, một vài rau củ chứa tinh bột như khoai lang, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt.

Tính toán lượng Carbohydrate

Tính lượng carbohydrate là một phương pháp được dùng để quản lý sự tiêu thụ carbohydrate cho kiểm soát tối ưu nồng độ đường huyết, đặc biệt sau các bữa ăn và cho liều insulin trước ăn. Những mục tiêu được đề nghị của carbohydrate trong mỗi bữa ăn là 30 đến 45 g cho các bữa ăn và 15 đến 20 g cho ăn nhẹ và tổng 45 đến 55% năng lượng cho một ngày.

Có hai phương pháp cho tính toán lượng carbohydrate: đọc các nhãn thức ăn cho số lượng carbohydrate đặc biệt trong mỗi khẩu phần và sau đó điều chỉnh lượng thức ăn để phù hợp mục tiêu xác định trước, hoặc dùng hệ thống trao đổi dữ liệu, ở đó những nhóm thức ăn được phân chia thành một lượng xác định trước các carbohydrate.

Tập thể dục

Không hoạt động thể chất là kết hợp với tăng nguy cơ dung nạp glucose giảm và bệnh tiểu đường type 2. Giảm cân thông qua tập thể dục và một chế độ ăn khỏe mạnh làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2. Trong những bệnh nhân bệnh tiểu đường type 2 có tập thể dục thì mức đường huyết và mức cholesterol thấp hơn và cải thiện nhạy cảm insulin, không quan tâm đến giảm cân thật tế.

VIII. Những biến chứng có thể xảy ra của bệnh

Những biến chứng mạch máu lớn và mạch máu nhỏ của bệnh tiểu đường type 2

  • Các biến chứng mạch máu lớn bao gồm bệnh tim và đột quỵ. Cơ chế cho bệnh mạch máu lớn là chứng xơ vữa động mạch và hẹp các động mạch do sự thành lập mảnh bám.
  • Các biến chứng mạch máu nhỏ bao gồm bệnh võng mạc (gồm mù), bệnh thần kinh (tổn thương dây thần kinh) và bệnh thận (tổn thương thận). Các biến chứng mạch máu nhỏ được gây nên bởi đường huyết tăng trong suốt thời gian dài và tăng đường huyết nghiêm trọng.
Những biến chứng có thể xảy ra của bệnh
Những biến chứng có thể xảy ra của bệnh

Các biến chứng khác

  • Những vấn đề về bàn chân người tiểu đường bao gồm: loét, viêm tủy xương (nhiễm trùng xương) và bàn chân Charcot (các xương bàn chân yếu làm tăng nguy cơ bệnh thần kinh và gãy xương).
  • Nhiễm ceton acid của bệnh bệnh tiểu đường và tình trạng tăng đường huyết tăng thẩm thấu là hiếm, nhưng chúng xảy ra trong những tình huống nhất định, như giảm sản xuất insulin và bệnh nghiêm trọng.
  • Chứng liệt nhẹ dạ dày là sự trì hoãn làm trống dạ dày. Những triệu chứng bao gồm: cảm giác no sớm khi đang ăn, thiếu sự thèm ăn, buồn nôn, đau bụng và ợ nóng.
  • Tụt huyết áp tư thế là áp lực máu thấp khi thay đổi vị trí hoặc tư thế.
  • Rối loạn chức năng gây cương.
  • Trầm cảm là thường kết hợp với những bệnh nhân chịu đựng các bệnh mãn tính.
  • Tăng nguy cơ phát triển nhiễm trùng mô mềm hoại tử.
  • Gan nhiễm mỡ có 25% tiến tới xơ gan.

Sàng lọc các biến chứng

Sàng lọc các biến chứng nên bắt đầu ngay lập tức bởi vì tổn thương rất có thể đã xảy ra sẵn. Những triệu chứng có thể diễn tiến nhiều năm trước khi được chẩn đoán. Những mẫu xét nghiệm bao gồm:

  • Kiểm tra mắt dãn hằng năm.
  • Theo dõi huyết áp mỗi kỳ.
  • Xét nghiệm lipid và creatinine huyết thanh, vi đạm niệu hằng năm.
  • Đưa vào chương trình các đợt sàng lọc bàn chân để ngăn ngừa cắt cụt chi và gồm những đánh giá hằng năm bệnh một dây thần kinh, mạch và rung.
  • Thực hiện kiểm tra hằng ngày bởi chính bạn cũng như bởi bác sĩ mỗi khi bạn đi khám.
  • Kể cho bác sĩ của bạn nếu bạn đang có rối loạn tiêu hóa thức ăn, rối loạn chức năng gây cương hoặc chóng mặt với những thay đổi vị trí.

Phòng ngừa các biến chứng

Những người bệnh bệnh tiểu đường type 2 có thể giảm nguy cơ các biến chứng bằng cách kiểm soát mức đường huyết của họ với những sự can thiệp lối sống:

  • Xét nghiệm đều độ A1c được đề nghị mỗi 3 đến 6 tháng, phụ thuộc các nhu cầu cá nhân.
  • Kiểm soát huyết áp tốt nghĩa là duy trì một huyết áp thấp hơn 130/80
  • Điều chỉnh rối loạn lipid máu bằng statin.
  • Tự theo dõi mức đường huyết mỗi ngày.
  • Tham gia lớp tự quản lý bệnh tiểu đường .
  • Ngưng hút thuốc.
  • Duy trì cân nặng khỏe mạnh.
  • Duy trì chế độ ăn khỏe mạnh và lối sống năng động.
  • Dùng aspirin để ngăn ngừa các biến chứng tim mạch.
  • Nhận được đề nghị tiêm chủng.

Các đề nghị dùng aspirin

Những bệnh nhân bệnh tiểu đường có gấp 2 đến 4 lần nguy cơ các biến chứng tim mạch, và nguy cơ đột quỵ là gấp đôi trong 5 năm chẩn đoán. Aspirin liều thấp là một thuốc hợp lý cho hầu hết những ngưởi trưởng thành bị bệnh tiểu đường để dùng một cách thường xuyên, mặc dù nó quan trọng để hỏi chuyên gia chăm sóc sức khỏe của bạn đầu tiên. Aspirin được dùng như sự phòng ngừa thứ cấp cho những bệnh nhân bệnh tiểu đường có bệnh tim mạch.

Sự tạo miễn dịch

Chủng ngừa làm giảm những nguy cơ nhiễm trùng chết người tiềm ẩn. Những bệnh nhân bệnh tiểu đường type 2 nên nhận được vaccine bệnh cúm hàng năm. Vaccine phế cầu khuẩn nên được dùng theo lịch trình vaccine của các trung tâm kiểm soát bệnh cơ bản theo tuổi và tiền căn chủng ngừa trước đó.

Viêm gan B hiện nay được đề nghị cho tất cả mọi người dưới 60 tuổi, hoặc sau 60 tuổi nếu cá nhân có nguy cơ cao nhiễm viêm gan B. Tdap (vaccine bệnh uốn ván, vaccine bệnh bạch hầu, vaccine bệnh ho gà vô bào) nên được dùng theo lịch trình vaccine của các trung tâm kiểm soát bệnh cơ bản theo tuổi và tiền căn chủng ngừa trước đó. Vaccine Zoster (bệnh zona) nên được dùng một lần ở tuổi 60.

Về tác giả 

Laurie Marbas, M.D.

Laurie Marbas, M.D. là một bác sĩ y khoa gia đình ở Colorado và đã phục vụ tại quê hương cố ấy như một văn phòng USAF. Cô ấy từng nhận được một bằng cử nhân khoa học từ trường đại học Portland, một bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh (Master of  Business Administration – MBA) từ trường đại học kỹ thuật Texas và một bằng bác sĩ y khoa (A medical doctor – MD) từ trường y khoa – trung tâm khoa học sức khỏe trường đại học kỹ thuật Texas (Texas Tech University Health Sciences Center School of Medicine).

Nguồn tham khảo: livestrong.com

Content Protection by DMCA.com

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here