Xét nghiệm và chẩn đoán cho bệnh trào ngược Acid

0

Bệnh trào ngược acid có thể thường được chẩn đoán bằng những triệu chứng, nhưng cũng có nhiều cách phức t hơn để chẩn đoán.

Kiểm tra nội soi

Nội soi là một cách xâm lấn nhỏ để kiểm tra bên trong cơ thể, sử dụng máy thu hình rất nhỏ được gắn vào bên trong một thiết bị dài, mỏng được gọi là đèn nội soi. Đèn nội soi được đưa vào cơ thể thông qua các con đường mở tự nhiên như miệng hoặc mũi. Xét nghiệm thực hiện phổ biến nhất để chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày thực quản GERD gồm việc sử dụng đèn nội soi để kiểm tra những cấu trúc có thể bị tổn thương bởi acid.

Nội soi phía trên cũng được biết như soi tá tràng dạ dày thực quản hoặc EGD – được thực hiện bằng cách đặt đèn nội soi qua miệng, sau đó tiến vào họng và xuống thực quản vào trong dạ dày cuối cùng xâm nhập vào phần trên của ruột non, được biết là tá tràng. Mặc dù, EGD là một phương pháp tương đối ít đau, một phản xạ nôn khan mạnh xảy ra khi đèn nội soi chạm lưng lưỡi hoặc họng. Bởi vậy, nhiều người cần đến thuốc làm dịu khi họ trải qua nội soi EGD.

Nội soi thực quản qua mũi, hoặc TNE (transnasal esophagoscopy), là một kỹ thuật nội soi khác có thể được sử dụng để chẩn đoán GERD cũng tốt như LPRD. Với TNE, một máy thu hình rất nhỏ được gắn vào trong một dụng cụ siêu mỏng về chiều rộng của ống dẫn đường kính nhỏ. Dụng cụ này được chèn qua mũi để kiểm tra họng, thực quản và đỉnh của dạ dày. TNE thì không cần thuốc làm dịu bởi vì phản xạ nôn khan thì nhỏ khi đi qua mũi như một dụng cụ mỏng.

Trong suốt cả EGD và TNE, những mẫu mô nhỏ có thể thu được từ những vùng đang được mường tượng. Những sinh thiết này sau đó được kiểm tra dưới một kính hiển vi bởi nhà nghiên cứu bệnh học để giúp chẩn đoán bệnh trào ngược acid cũng như để loại trừ khả năng những bệnh khác như ung thư.

Những xét nghiệm X quang

Có hai xét nghiệm X quang rằng được sử dụng để điều tra bệnh trào ngược acid: nuốt một chất cản quang tia X hoặc một loạt đường tiêu hóa trên – GI (gastrointestinal). Với cả hai dạng kiểm tra này, một người uống một chất cản quang đặc chứa chất lỏng trắng và tia X được dùng trong thời gian này và ngay lập tức sau khi nuốt để theo dõi đường đi của chất cản quang. Trong lúc nuốt chất cản quang – cũng được gọi là một điện đồ thực quản – chất cản quang được hình dung như nó di chuyển thông qua thực quản từ họng đến dạ dày. Trong suốt chuỗi dạ dày ruột phía trên, chất cản quang được theo dõi thông qua thực quản và dạ dày đến ruột non.

Trong khi nghiên cứu những tia X này sẽ giúp chẩn đoán GERD nếu chất cản quang được nhìn thấy chảy ngược từ dạ dày vào thực quản, người bị GERD không phải lúc nào cũng có trào ngược. Cho nên, trào ngược có thể không được quan sát thấy trong suốt nghiên cứu. Tuy nhiên, những xét nghiệm này có thể cung cấp thông tin quan trọng khác như có tình trạng tắc nghẽn hay không hoặc có vùng hẹp trong thực quản hay không, nó có thể là ảnh hưởng từ GERD hoặc các bệnh khác.

pH thực quản và quan sát trở kháng

Xét nghiệm mức độ pH là cách duy nhất để xác định trực tiếp acid có đang bị trào ngược vào thực quản hay không. Có hai kỹ thuật khả dụng: 1 ống thông – hệ thống định lượng pH cơ bản và một kỹ thuật vô tuyến. Ống thông – kỹ thuật cơ bản là một xét nghiệm 24 giờ nơi ống thông được đặt qua mũi vào trong phía dưới thực quản. Một đầu tận ống thông nằm trong thực quản và đầu tận còn lại nằm ngoài mũi, ở đó nó được buộc chặt bởi một dây mỏng đến một thiết bị thu nhỏ trong 24 giờ. Trong giai đoạn 24 giờ, bệnh nhân ghi nhận những bữa ăn và những triệu chứng trong khi thiết bị tiếp tục đo mức độ pH trong thực quản.

Kỹ thuật vô tuyến đòi hỏi phải 48 giờ ghi nhận tiếp xúc acid và thực quản. Một viên thuốc nhỏ giúp nhận cảm giác acid được chèn trong suốt nội soi và bị cắt cụt ở nơi thấp thực quản. Những kích thước sau đó được truyền đến một thiết bị thu nhỏ được đeo xung quanh eo. Những lợi ích của hệ thống vô tuyến là thoải mái hơn và bởi vì không có ống thông ra mũi, nó thì dễ hơn cho bệnh nhân để hoạt động bình thường. Hơn nữa, nó thể hiện chính xác và lâu hơn của sự tiếp xúc acid và thực quản.

Trong khi ống thông – hệ thống cơ bản có những mặt hạn chế của một vài điều không thoải mái và tác động hình dạng của bệnh nhân, chúng có lợi ích của xét nghiệm trở kháng để thực hiện đo pH ở thời gian giống nhau. Những cảm biến trở kháng trên ống thông cho phép khám phá không những trào ngược acid từ dạ dày mà còn trào ngược của những chất không phải acid như acid mật từ tá tràng. Mặc dù, ít phổ biến hơn trào ngược acid, trào ngược acid mật cũng có thể gây GERD, với viêm thực quản.

Bởi vì định lượng pH – kháng trở có khả năng phát hiện trào ngược của những dạng khác của các chất, nó chính xác hơn xét nghiệm pH một mình trong phát hiện trào ngược dạ dày thực quản. Nó là một xét nghiệm lý tưởng cho bệnh nhân, những người vẫn còn những triệu chứng mặc dù đang dùng thuốc cho bệnh trào ngược acid. Những bệnh nhân này thường có những giai đoạn chỉ trào ngược acid yếu, nó được phát hiện tốt nhất bằng phương pháp pH – kháng trở.

Định lượng pH ở họng

Trong nhiều cách giống định lượng pH thực quản có thể được sử dụng để đánh giá tiếp xúc acid thực quản, định lượng pH cũng có thể được dùng để phát hiện sự có mặt của acid trong họng. Định lượng pH họng là một hệ thống ông thông cơ bản nơi dây mỏng với những cảm biến pH được đặt qua mũi vào trong họng và quá 24 giờ mức độ pH được ghi nhận và truyền đến một thiết bị ghi được đeo xung quanh eo. Định lượng pH họng được sử dụng để chẩn đoán LPRD, mặc dù có một vài tranh cãi giữa những chuyên gia về những gì được xem là số lượng bất thường của những gia đoạn trào ngược acid trong họng.

Content Protection by DMCA.com

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here